Tác giả: Lê Việt Ạnh Ngày đăng: Tháng 1 22, 2025
Mục Lục Bài Viết

Căn cứ vào loại tế bào ung thư phát triển, ung thư phổi được chia thành hai loại chính: ung thư phổi không tế bào nhỏ (Non small cell lung cancer

Ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC)
Là dạng phổ biến nhất, chiếm khoảng 85% tổng số ca mắc bệnh. Trong khi đó, ung thư phổi tế bào nhỏ (SCLC) tuy ít gặp hơn nhưng lại có tốc độ phát triển nhanh và dễ di căn đến các bộ phận khác trong cơ thể. Đáng chú ý, hơn 50% bệnh nhân được chẩn đoán khi tế bào ung thư đã di căn ra ngoài phổi.
Bệnh có thể phát triển do nhiều yếu tố nguy cơ khác nhau như hút thuốc lá trực tiếp, hút thuốc lá gián tiếp (tiếp xúc với khói thuốc từ người khác), ô nhiễm không khí, các bệnh về phổi (như lao và viêm phế quản mãn tính), tiếp xúc nghề nghiệp với các hóa chất gây ung thư (amiante/asbestos, kim loại nặng), bức xạ ion hóa (radon, tia X) và nghiện rượu. Đáng chú ý, ung thư phổi ở những người không hút thuốc thường xuất hiện nhiều hơn ở phụ nữ.
Ung thư phổi tế bào nhỏ (SCLC)
Tiên lượng sống của bệnh nhân mắc ung thư phổi tế bào nhỏ (SCLC) thường không quá một năm sau điều trị, và tỷ lệ sống sót sau 5 năm chỉ đạt dưới 7%.
Ung thư phổi có di truyền không? Ung thư phổi CÓ THỂ được di truyền qua các thế hệ trong gia đình. Khi một người được chẩn đoán mắc bệnh hoặc tử vong do ung thư phổi, những người có quan hệ huyết thống gần nhất như cha mẹ, anh chị em ruột và con cái sẽ có nguy cơ cao mắc phải căn bệnh này.
Ung thư phổi có di truyền không?m/wp-content/uploads/2025/01/ung-thu-phoi-co-di-truyen-khong-3.jpg 800w, https://phuongnamhospital.com/wp-content/uploads/2025/01/ung-thu-phoi-co-di-truyen-khong-3-300x188.jpg 300w, https://phuongnamhospital.com/wp-content/uploads/2025/01/ung-thu-phoi-co-di-truyen-khong-3-768x480.jpg 768w" sizes="auto, (max-width: 800px) 100vw, 800px" />Đối với những người có người thân trong gia đình từng mắc ung thư phổi, nguy cơ mắc bệnh có thể dao động từ 30% đến 50%. Đặc biệt trong các trường hợp di truyền, ung thư có thể phát triển từ khi người bệnh còn trẻ, ngay cả khi họ không hút thuốc hay tiếp xúc thường xuyên với khói thuốc và các chất hóa học độc hại.
Nguy cơ mắc ung thư phổi ở những người có anh chị em ruột đã từng mắc bệnh là rất cao, ngay cả khi họ đã thực hiện các biện pháp điều chỉnh lối sống và bỏ thuốc lá. Nghiên cứu chỉ ra rằng những người có tiền sử gia đình mắc ung thư phổi có khả năng mắc bệnh cao hơn đáng kể so với người không có tiền sử gia đình.
Đột biến gen có thể được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và làm tăng nguy cơ mắc ung thư phổi. Tuy nhiên, phần lớn các đột biến gen gây ung thư phát sinh trong quá trình sống và không di truyền cho thế hệ sau. Tỷ lệ ung thư phổi di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác chỉ chiếm khoảng 8%.
Một nghiên cứu trên 230 bệnh nhân ung thư phổi không hút thuốc cho thấy 18% số bệnh nhân có tiền sử gia đình mắc ung thư phổi. Tuy nhiên, để xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh của từng trường hợp, cần phải xem xét nhiều yếu tố nguy cơ khác như việc tiếp xúc với khói thuốc lá (trực tiếp hoặc gián tiếp), ô nhiễm môi trường, tiếp xúc với hóa chất độc hại và phóng xạ.
Bên cạnh việc tìm hiểu về tính di truyền của ung thư phổi, việc xác định và chú ý đến các nhóm người có nguy cơ cao nhằm thực hiện các biện pháp phòng ngừa phù hợp.
Ung thư phổi là một trong những loại ung thư nguy hiểm và phổ biến nhất. Mặc dù hút thuốc lá là nguyên nhân chính gây ra bệnh, nhưng còn nhiều yếu tố khác cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

Không có biện pháp nào đảm bảo 100% ngăn ngừa ung thư phổi, nhưng có những biện pháp có thể giúp giảm thiểu nguy cơ. Cụ thể như:

Chương trình sàng lọc ung thư phổi được khuyến cáo thực hiện đối với những người thuộc nhóm nguy cơ cao, bao gồm những người từ 50 tuổi trở lên và/hoặc có tiền sử hút thuốc lá trên 20 gói-năm. Đối với nhóm này, bác sĩ thường khuyến nghị chụp CT scan phổi liều thấp mỗi năm một lần nhằm phát hiện sớm ung thư phổi.

Quy trình chụp CT scan phổi liều thấp được thực hiện bằng hệ thống máy chụp sử dụng liều bức xạ thấp để tạo ra những hình ảnh chi tiết về phổi. Ưu điểm của phương pháp này là quy trình chỉ diễn ra trong vài phút và không gây đau đớn cho người bệnh.
Mặc dù đã xác định được mối liên quan rõ ràng giữa ung thư phổi và các đột biến gen như EGFR, KRAS, ALK, ROS1 và BRAF, nhưng các đột biến này chỉ được tìm thấy trong tế bào ung thư chứ không xuất hiện trong tế bào bình thường của cơ thể. Xét nghiệm đột biến gen chủ yếu giúp bác sĩ lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp cho từng bệnh nhân, tùy theo giai đoạn bệnh và loại đột biến gen. Hiện nay, các đột biến gen này chưa có vai trò trong tầm soát phát hiện sớm ung thư phổi và cũng chưa có khuyến nghị nào về sàng lọc di truyền đối với bệnh ung thư phổi.
Khuyến cáo y khoa: Các bài viết của Phòng khám Đa khoa Phương Nam chỉ có tính Tầm soát phát hiện sớm bệnh ung thư phổi
tle">Trên đây là thông tin giải đáp thắc mắc “Ung thư phổi có di truyền không?”. Mặc dù yếu tố di truyền đóng một vai trò nhất định trong việc phát triển ung thư phổi, nhưng nó không phải là yếu tố quyết định duy nhất. Hầu hết các trường hợp ung thư phổi đều liên quan đến các yếu tố môi trường, đặc biệt là hút thuốc lá. Vì vậy, để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh, chúng ta cần chú trọng đến việc xây dựng lối sống lành mạnh, hạn chế tiếp xúc với các chất gây ô nhiễm và đi khám sức khỏe định kỳ.
Nguồn tham khảo: